phân tích bài tự tình là một trong những từ khóa được search nhiều nhất trên google về chủ đề phân tích bài tự tình. Trong bài viết này, chocudan.com sẽ viết bài viết Tổng hợp các cách phân tích bài tự tình mới nhất 2020.
Tổng hợp các cách phân tích bài tự tình mới nhất 2020.
Trong nền móng những bài thơ đưa chứa tâm sự của Hồ Xuân Hương, “Tự tình” là một trong những bài thơ hay nhất. Bài thơ thể hiện nỗi buồn, nỗi cô đơn thấm thía của người yêu đời, tràn ngập sức sống nhưng gặp cảnh ngộ éo le, một con người luôn khao khát tình yêu nhưng chỉ gặp toàn dang dở, bất hạnh. Đó còn là sự bất hạnh của một mơ ước không thành.
Sinh ra và lớn lên trong một công đoạn lịch sử đầy sóng gió (nửa cuối thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX), Hồ Xuân Hương là người chứng kiến và phần nào chịu ảnh hưởng cái k khí sôi sục của phong trào quần chúng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho con người. không khí ấy ảnh hưởng đến tâm hồn vốn thông minh và giàu lòng trắc ẩn của bà. Bà uy nghiêm, thức tỉnh, trăn trở về đời mình, một cuộc đời lắm éo le, bạc phận: get chồng hai lần, hai lần làm lẽ và hai lần chồng đều chết sớm. Điều đó, với bà là những biểu hiện cụ thể, đầy nước mắt của nỗi đau “hồng nhan bạc phận”. xây dựng tittle thơ “Tự tình”, tác giả gợi ra một khoảng thời gian, một góc chân trời xao xác tiếng gà.
Đây là một thứ không gian, thời gian nghệ thuật được ứng dụng sử dụng nền cho sự thổ lộ tâm trạng tác giả: “Cảnh khuya văng vẳng trống canh dồn”. “Văng vẳng” chính là từ tượng thanh nhưng ở đây nó vừa biểu thị tâm trạng, k khí, cái k khí buồn vắng lặng của một người thao thức giữa đêm khuya thanh vắng. Câu thứ hai nhức nhối một tâm sự:
“Trơ cái hồng nhan với nước non”
Hay nhất của câu thơ thứ hai là từ “trơ”. Trơ là trơ trọi, cô đơn, lẻ loi. Nhà thơ cảm nhận nỗi buồn hồng nhan. Một nỗi buồn “cụ thể” càng kinh khủng hơn khi cọ xát với toàn thế giới, toàn cuộc đời: “nước non”. Một nỗi buồn đè nặng lên tâm sự bà, lên số phận của người phụ nữ. k chịu đựng nổi, bà muốn chống lại, thoát khỏi. “Chén rượu hương đưa” là một phương tiện. không phải phương tiện duy nhất nhưng hầu như là cuối cùng cho một đè nén quá mức. Thế nhưng, bi kịch vẫn cứ là bi kịch:
“Chén rượu hương mang say lại tỉnh”.
Câu thơ nữ sĩ gợi nhớ một câu thơ đầy trầm tư của Lí Bạch:
“Dùng gươm chém nước, nước chẳng dứt
Uống rượu tiêu sầu, sầu vẫn sầu”
Bất lực, câu thơ chuyển sang một sự cám cảnh sinh tình. Hồ Xuân Hương nói:
“Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”
Trong quan niệm thẩm mĩ xưa, vầng trăng tượng trưng cho cuộc đời, tuổi tác của người phụ nữ. Câu “Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn” vừa là một pic xinh, có thực nhưng đượm buồn. Cái buồn của một “vằng trăng khuyết”. so với thơ xưa, cảnh là tình, cảnh trăng khuyết man mác, gợi nhớ cuộc sống bà. Trong “mời trầu ” bà đang ẩn ý suy nghĩ giống như vậy.
Sang câu 5, 6 tứ thơ giống như đột ngột biến đổi. Sự cụ thể trong diễn tả khiến việc tả cảnh trở nên thuần khiết. Một cảnh thực hoàn toàn:
“Xiên ngang mặt đất rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây đá mấy hồn”
Nghệ thuật đảo ngữ và đối tạo nên sự sinh động và cảnh đầy sức sống. Một sức sống nhờ tài Quan sát của bà như quẫy đạp, cựa mình. Cảnh này chỉ đủ sức là cảnh của “Bà chúa thơ nôm” chứ không phải của ai không giống. rạch ròi, dẫu đã rất buồn, rất cô đơn nhưng điều đó luôn luôn k suy giảm chất riêng của Hồ Xuân Hương. Bản lĩnh, sức sống mãnh liệt, sự khao khát với cuộc đời khiến cho dù lòng đầy cám cảnh bà vẫn Quan sát cảnh vật với con mắt yêu đời, tha thiết, chứa chan sức sống. Đó là sự lí giải về những phản kháng, đối nghịch trong bản chất bà, tạo nên những vần thơ châm biếm đối lập. Vũ khí ấy hơn hẳn chén rượu “say rồi tỉnh”. Đó là phương tiện kì diệu nâng đỡ tâm hồn bà. Chỉ như thế mới đủ sức hiểu tâm trạng, tiếng thở dài của Hồ Xuân Hương, ở hai câu thơ kết:
“Ngán nỗi xuân đi, xuân lại lại,
Mảnh tình chia sẻ tí con con!”.
Yêu đời là thế, sức sống mãnh liệt là thế mà cuộc sống riêng thì vẫn: “Xuân đi xuân lại lại.”, điệp từ chỉ cái vòng luẩn quẩn đáng ghét, vô vị của ngày tháng, cuộc đời. Điều này khiến bà k tránh khỏi một tiếng thở dài chua xót. Càng chua xót hơn khi giữa cái tuần hoàn thời gian ấy là một “mảnh tình” vừa mới bị san đi, sẻ lại… Chia xới. so với trái tim thiết tha với đời kia, điều đó như một vết thương, nhức nhối.
người ta nói rằng thơ là tâm trạng, là một bức thông điệp thẩm mĩ. Đọc “Tự tình”, là thấu hiểu được tâm sự ẩn chứa bi kịch của Hồ Xuân Hương. Là một tư cách luôn khao khát hạnh phúc, là một tâm hồn tràn đầy sức sống, yêu đời lại bắt gặp toàn những dở dang, bất hạnh, điều đó tạo nên trong thơ bà có khi là một tiếng thở dài. Một tiếng thở dài đáng quý của một người có hoài bão nhưng k thể thực hiện được, trách nhiệm là ở phía không gian phong kiến, một thế giới mà hạnh phúc riêng đã đối lập thật gay gắt với cơ cấu không gian chung. Trong chiều hướng ấy, “Tự tình” là một bài thơ đòi quyền hạnh phúc, một lời phản kháng mới mẻ lại chứa chan tiếng nói bênh vực của người phụ nữ, tạo được sự thấu hiểu, đồng cảm với những cảnh ngộ éo le, trắc trở.
phân tích bài thơ Tự tình của Hồ Xuân Hương – Mẫu 2
Thân phận lẽ mọn của người phụ nữ trong thế giới phong kiến là một đề tài khá thông dụng trong văn học dân gian và văn học viết thời hiện đại. Tình yêu và hanh phúc gia đình là một trong những mối chú ý to của văn học từ ngày trước đến bây giờ. Nó góp phần thế hiện rõ trí não nhân đạo trong văn học. Chùm thơ Tự tình là một trong những tác phẩm tiêu biểu viết về người phụ nữ trong vàn học Viet Nam – Hồ Xuân Hương.
Người phụ nữ cô đơn trong đêm khuya vắng lặng nghe tiếng trống cầm canh báo thời khắc đi qua. Canh khuya là thời gian từ nửa đêm cho đến sáng. Nàng cảm thấy tiếng trống canh báo hiệu thời gian khắc khoải mong ngóng một điều gì. Nhưng càng mong lại càng không thấy. Tiếng trống canh đã dồn dập kia chính là thông báo về thời gian tâm trạng của nàng. Nó thể hiện nỗi mong đợi khắc khoải, thảng thốt thiếu tự tin, đầy lo âu và vô vọng của người đàn bà.
Hồ Xuân Hương diễn đạt tâm trạng bẽ bàng của người vợ cô đơn đợi mong chồng mà chồng k đến bằng một chữ trơ – trơ trọi, trơ cái hồng nhan, cái thân phận phụ nữ với nước non, với đời, với tình yêu.
Hai câu kế tiếp, Hồ Xuân Hương diễn đạt tâm trạng tuyệt vọng của người vợ chờ chồng.
Câu thơ ẩn chủ từ, chỉ thây hành động và tình trạng diễn ra. Chén rượu hương mang nghĩa là uống rượu giải sầu cho quên sự đời, nhưng say rồi lại tỉnh, tức là uống rượu vẫn không quên được mối sầu!
Vầng trăng bóng xế trong câu bốn có nghĩa là đêm đã gần tàn, nhưng trăng chưa tròn mà vừa mới xế, thể hiện xúc cảm về hạnh phúc chưa tròn đầy. Vầng trăng bóng xế cũng đủ nội lực có hàm ý chỉ tuổi người đang luống mà hạnh phúc chưa đầy.
Nếu giống như bốn câu thơ trước tiên diễn tả cái tâm trạng chờ đợi mòn mỏi có phần tuyệt vọng, buông xuôi, thì ở hai câu năm và sáu, Hồ Xuân Hương đang ngạc nhiên vẽ ra hình ảnh một sự cảm khái. Cái đám rêu kia còn được bóng trăng xế xiên ngang mặt đất soi chiếu tới. Ta đủ nội lực tưởng tượng: mấy hòn đá kia còn được ánh trăng đâm toạc chân mây để soi đến. Hoá ra thân phận mình cô đơn k bằng được như mấy thứ vô tri vô giác kia! Đây k nhất thiết phải là cảnh thực, mà đủ nội lực chỉ là hình ảnh trong tâm tưởng. Mấy chữ xiên ngang, đâm toạc có ý tiếp cái mạch văn trũng bóng xế ở câu trên. Nhưng các sự vật, hình ảnh thiên nhiên ở đây diễn ra trong dáng vẻ không giống thường, do việc tác giả sử dụng những từ ngữ chỉ hành động có tính chất mạnh mẽ, dữ dội:
Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,
Đâm toạc chân mây, đá mấy hon.
Hai câu thơ này cũng đủ sức hiểu là đảo ngữ: rêu từng đám xiên ngang mặt đất, còn đá mấy hòn vươn lên đâm toạc chân mây. Và đó không phải là pic của ngoại cảnh, mà là hình ảnh của tâm trạng, một tâm trạng bị dồn nén, bức bối mong muốn đập phá, mong muốn làm loạn, muôn được giải thoát khỏi sự cô đơn, chán chường. Nó thể hiện cá tính manh mẽ, táo bạo của chính Hồ Xuân Hương.
Những dồn nén, bức bôi, đập phá của tâm trạng nhà thơ ngạc nhiên bộc phát, và cũng ngạc nhiên lắng dịu, nhường chỗ cho sự trở lại của nỗi buồn chán và bất lực, chấp nhận và cam chịu. Càu thơ Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại chứa đựng biết bao nhiêu là thời gian và sự chán ngán dẫn dài. cuộc sống cứ trôi đi, thời gian cứ trôi đi, tình yêu và hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút. Tác giả vừa mới đi, tình yêu mà hạnh phúc thì chỉ được hưởng tí chút. Tác giả vừa mới dùng từ mảnh tinh để nói cái tình bé như mảnh vỡ. Lại nói san sẻ – Chắc là chia sẻ với chồng, chia sẻ với vợ cả chăng? Hai câu thơ cuối khép lại bài thơ, giống như một tóm lại, như một lời than thở thầm kín của người phụ nữ có số phận lẽ mọn về tình yêu và hạnh phúc lứa đôi k trọn vẹn trong xã hội xưa.
Bài thơ là lời than thở cho số phận hẩm hiu của người phụ nữ chịu cảnh lẽ mọn, thể hiện thái độ bi quan, chán nản của tác giả và thân kiếp thiệt thòi của con người.
Đặc sắc nhất về nghệ thuật của bài thơ là sử dụng những từ ngữ và pic gây thích thú mạnh. Tác giả chủ yếu dùng các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc, đường nét với sắc thái đặc tả mạnh, bằng những động từ chỉ tình thái: dồn, trơ, xế, xiên ngang, đâm toạc, đi, lại lại, san. Sẻ, … Và tính từ chỉ trạng thái: say, tỉnh, khuyết, tròn… Để miêu tả những cảm nhận về sự đời và số phận.
pic trong bài thơ gây thích thú rất mạnh bởi nghệ thuật đặc tả. Nhà thơ thường đẩy đối tượng miêu tả tới độ cùng cực của hiện trạng đưa tính tạo hình cao. Nói về sự cô đơn, trơ trọi đến vô duyên của người phụ nữ thì: Trơ cái hồng nhan với nước non. Mấy chữ xiên ngang, đâm toạc đều là những hành động mạnh mẽ như mong muốn tung phá, đầy sức sông thể hiện những cảm xúc trẻ trung.
Tác phẩm trình bày một phương pháp nghệ thuật mối mâu thuẫn giữa khát vọng hạnh phúc lứa đôi trọn vẹn của người phụ nữ trong cảnh lẽ mọn với hiện thực phũ phàng là sống trong cô đơn, mòn mỏi mà họ phải chịu đựng, giữa mong ước chính đáng được sống trong hạnh phúc vợ chồng với việc đồng ý thân phận thiệt thòi do cuộc sống mang lại.
Bài thơ bày tỏ sự thông cảm sâu sắc của tác giả so với nỗi bất hạnh của người phụ nữ, phê phán gay gắt chế độ đa thê trong không gian phong kiến, song song thể hiện rõ sự bất lực và cam chịu của con người trước cuộc sống hiện nay.
Bài thơ miêu tả một tình cảm đáng thương, một số phận đáng cảm thông, một khát vọng đáng trân trọng, một tâm trạng đáng được share của người phụ nữ trong xã hội xưa. Những mong ước hạnh phúc đó là hoàn toàn chính đáng nhưng không thể thực hiện được trong điều kiện thế giới lúc bấy giờ, đó là bi kịch k thể giải toả. thành ra giọng điệu của bài thơ vừa ngậm ngùi vừa ai oán. Yêu cầu giải phóng con người, giải phóng tình cảm chỉ có thể tìm được lời giải đáp dựa trên cơ sở của những điều kiện lịch sử – xã hội mới mà thôi